VỤ VIỆC DÂN SỰ CÓ DẤU HIỆU HÌNH SỰ: CHỦ THỂ CÓ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH BỊ XÂM PHẠM NÊN CHỌN CÁCH NÀO?

0
42

VỤ VIỆC DÂN SỰ CÓ DẤU HIỆU HÌNH SỰ: CHỦ THỂ CÓ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH BỊ XÂM PHẠM NÊN CHỌN CÁCH NÀO?

            Ví dụ điển hình cho những vụ việc dân sự có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự là những vụ việc mà một chủ thể vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng, khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì phát hiện chủ thể đó đã bỏ trốn.

            Trong những trường hợp như thế, chủ thể có quyền lợi bị xâm phạm nên làm như thế nào để bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của mình?

            Dựa trên kinh nghiệm xử lý các vụ việc tương tự trên thực tế, chúng tôi xin đưa ra các phương án giải quyết để khách hàng có thể cân nhắc lựa chọn như sau:

            Phương án thứ nhất: Khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền để yêu cầu bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tài sản.

          Trong quan hệ vay, mượn, thuê tài sản, quan hệ hợp đồng giữa các bên, nếu một bên không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết (không hoàn trả đủ tài sản, đúng thời hạn, không thanh toán lãi suất,…) thì bên còn lại có quyền khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền để buộc bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ.

           Căn cứ theo quy định tại các Điều 35, Điều 39, Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết khi có tranh chấp xảy ra là:

  • Tòa án nơi nguyên đơn cư trú, làm việc hoặc nơi nguyên đơn có trụ sở trong trường hợp các bên đã thỏa thuận với nhau bằng văn bản về việc lựa chọn Tòa án này giải quyết tranh chấp;

Ví dụ: Trong vụ án, nguyên đơn A cư trú tại huyện M của tỉnh N và bị đơn B cư trú tại huyện X của tỉnh Y. Theo nguyên tắc Tòa án huyện X tỉnh Y nơi bị đơn B cư trú có thẩm quyền. Nếu các bên thỏa thuận Tòa án nơi nguyên đơn A cư trú thì phải bảo đảm thẩm quyền của cấp Tòa án. Nếu vụ án thuộc thẩm quyền Tòa án cấp huyện thì thỏa thuận chỉ được chấp nhận khi các đương sự thỏa thuận Tòa án huyện M của tỉnh N giải quyết. Nếu các đương sự thỏa thuận Tòa án tỉnh N giải quyết thì thỏa thuận đó không được chấp nhận.

  • Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc nơi bị đơn có trụ sở theo quy định của Bộ luật này;

Yêu cầu đặt ra là:

           Tại thời điểm nộp đơn khởi kiện: Người khởi kiện (nguyên đơn) phải ghi đầy đủ tên, nơi cư trú, làm việc của người bị kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người bị kiện là cơ quan, tổ chức trong đơn khởi kiện (Theo Điểm d Khoản 4 Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự 2015). Do đó, địa chỉ của bị đơn là một trong những nội dung bắt buộc phải có trong đơn khởi kiện.

           Trường hợp người khởi kiện không rõ “nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở” của người bị kiện thì ghi rõ địa chỉ “nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng” của người bị kiện và phải được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh.

           Việc quy định phải ghi rõ địa chỉ của bị đơn nhằm mục đích: Xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án và Cơ sở để thông báo cho bị đơn biết việc tòa án đã thụ lý vụ án (thông tin cho bị đơn biết mình đã bị ai đó khởi kiện vì lý do gì để liên hệ Tòa án trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện).

           Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện không ghi địa chỉ của bị đơn hoặc người khởi kiện không ghi đầy đủ, cụ thể hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không sửa chữa, bổ sung theo yêu cầu của Thẩm phán thì đây sẽ là căn cứ để Tòa án trả lại đơn khởi kiện (theo Điểm e Khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015).

           Khi đã thụ lý vụ án: Tòa án không tống đạt được thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập do bị đơn không còn cư trú, làm việc hoặc không có trụ sở tại địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp và thuộc trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ Tòa án có thể thông qua thủ tục niêm yết để xét xử vắng mặt. Hoặc tòa án có thể thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng khi có yêu cầu của các đương sự khác trong vụ án.

          Tuy nhiên, đối với việc chủ thể có nghĩa vụ có dấu hiệu bỏ trốn, không xác định được đang ở đâu, thì việc giải quyết vụ án tại tòa án có nhiều bất lợi cho chủ thể có quyền:

  • Phải chứng minh được địa chỉ “nơi cư trú, làm việc, nơi có trụ sở” hoặc “nơi cư trú, làm việc, nơi có trụ sở cuối cùng” của người bị kiện. Trên thực tế, hầu như các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận nơi cư trú của người bị kiện đều yêu cầu phải có văn bản của Tòa án mới xác nhận. Trong khi tại thời điểm nhận đơn khởi kiện, Tòa án yêu cầu người nộp đơn phải cung cấp được những tài liệu này.
  • Bị đơn cố tình giấu địa chỉ, nhằm trốn tránh nghĩa vụ mà chủ thể có quyền không chứng minh được mục đích này thì nhiều trường hợp Tòa án “buộc” nguyên đơn phải rút lại đơn khởi kiện, xác định lại địa chỉ nơi bị đơn đang thực tế cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc kéo dài thời gian giải quyết với lý do vụ án có nhiều tình tiết phức tạp nên cần thời gian xác minh.

Những phân tích trên đây nhằm làm rõ rằng, khi chủ thể có nghĩa vụ có dấu hiệu bỏ trốn khỏi nơi cư trú, thì việc chủ thể có quyền thực hiện việc khởi kiện vụ án dân sự tại tòa án cũng không hề dễ dàng.

            Phương án thứ hai: Tố giác tội phạm hình sự.

            Bên cạnh việc khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp dân sự thì một trong các giải pháp mà người có quyền lợi bị xâm phạm có thể thực hiện đó là gửi đơn tố giác tội phạm tới cơ quan điều tra có thẩm quyền để tố giác hành vi có dấu hiệu vi phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (theo Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

            Khi đó, việc chứng minh chủ thể có nghĩa vụ có thực sự bỏ trốn hay không, việc bỏ trốn có phải nhằm chiếm đoạt tài sản hay không, hành vi có đủ yếu tố cấu thành tội phạm Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay không,… là trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng.

            Song, cần có sự cân nhắc kĩ lưỡng về việc khi nào, trong điều kiện như thế nào thì lựa chọn giải pháp này. Cụ thể là xác định mục đích mà chủ thể có quyền cần đạt được trong trường hợp này chỉ là mong muốn thu hồi lại được giá trị vật chất thuộc sở hữu hợp pháp của mình hay vừa muốn nhận lại tài sản, vừa muốn buộc người vi phạm nghĩa vụ chịu trách nhiệm trước pháp luật cho hành vi cố tình chiếm đoạt tài sản của người khác (trong trường hợp vụ án được truy tố, xét xử thì chủ thể có quyền có thể nộp đơn yêu cầu tòa án giải quyết việc dân sự trong vụ án hình sự).

          Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng đối với một số vụ án có dấu hiệu hình sự như tình huống đã đặt ra thì việc yêu cầu tòa án giải quyết việc dân sự là khả thi hơn cả. Vì khi đó cơ sở để cơ quan có thẩm quyền thụ lý giải quyết yêu cầu của người có quyền là rõ ràng. Tuy nhiên, chủ thể có quyền cũng cần xác định tư tưởng khởi kiện là giải pháp “còn nước còn tát” vì không ai “nắm được kẻ trọc đầu”.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến việc cấp bản sao, vui lòng liên hệ chúng tôi qua Hotline: (028) 6682.3286 – 0939.07.2345 (Zalo, Viber)!